Tâm huyết

Tour được thiết kế bằng trái tim của những con người dành hết tâm trí cho vùng đất Hà Giang

Chữ tín

100% hướng dẫn viên bản địa làm việc trách nhiệm và tâm huyết

VĂN HÓA

Am hiểu tường tận bản sắc văn hóa các dân tộc vùng cao

Cộng đồng

Đề cao ý thức trách nhiệm
cộng đồng

Bạc có một ý nghĩa kinh tế dân tộc học đặc biệt.

y-nghia-cua-bac-voi-nguoi-vung-cao

Với vùng núi non của người thiểu số, bạc mới thực là quan trọng chứ không phải tiền, hay vàng. Sống ở nơi biên địa nhiều quốc gia mà nền chính trị luôn bất ổn, dễ đổi thay, các tộc người vùng cao rất e ngại khi phải sử dụng tiền giấy, hay tiền tệ nói chung, bởi, chỉ với một cuộc đảo chính thành công thôi thì đồng tiền giấy luôn gắn với một thể chế quốc gia cụ thể đã trở nên vô nghĩa. Ngoài ra, giá trị an toàn kinh tế và thương mãi của bạc luôn rất cao. Bạc đầu thế kỷ XX, trong mạng lưới thương mãi của các chính quyền thuốc phiện đa quốc gia và khu vực, mà trong đấy, người H’mông là một mắt xích lớn, được coi như một đơn vị tiền tệ được chấp nhận chung giữa các nguồn luân chuyển thuốc thiện phi chính phủ. Vi dụ năm 1773, giá quy đói một rương thuốc phiện của Công ty Đông Án có thể từ 140 đến 350 lạng bạc.

Cuối thế XVIII, so với tiền đồng Trung Quốc, một lượng bạc đối bảy hoặc tám trăm tiền đồng đầu thế kỷ XIX, đổi được trên dưới 1000 tiền đồng từ năm 1821 – 1833 từ 1200 – 1300 đến trên 1.600 tiền đồng trong vòng 40 năm giá bạc nén tăng gấp đôi [Hỗ Bạch Thảo]. Như vậy, trong cái Zomia giáp ranh biên giới Việt-Trung có vùng người Hmông, bạc hiển nhiên được lựa chọn như là một thứ siêu tiền, tính ổn định của bạc so với đồng tiền quốc gia đã góp vào duy trì hữu hiệu nền kinh tế hoạt động theo các nguyên tắc thỏa thuận ngầm, thường là song phương của các nhóm lợi ích mang màu sắc tộc người ở vùng phi chính phủ núi và biển. Người Hmông với lịch sử lưu vong, liên tục phải di cư, nên kinh nghiệm phi chính phủ cho họ hiểu rằng, chỉ có bạc, thứ mà ở bất cứ vùng đất nào cũng còn nguyên giá trị mới là một tiền tệ an toàn nhất cho cuộc sống biến động. Hơn nữa, không phải là vàng mà là bạc bởi vì điều này còn liên quan đến thẩm mỹ tộc người.

Người Hmông (hay kể cả Dao, Thái, Tày, Nùng…) đều ưa thích những món trang sức lớn, bởi thế, vàng không thể đủ để đáp ứng, và thêm, thời gian mưa nắng khắc nghiệt vùng biên địa vàng rất dễ trở nên xỉn màu. Đồng thời, còn phải nói thêm, trang sức lớn vòng đeo cổ còn là một thứ ma thuật, bùa, một thứ “khó” giữ hồn ở lại trong cơ thể là kinh nghiệm thẩm mỹ thần bí của nhiều tộc người. Một lợi ích thiết thực nữa của bạc là về y học nhằm tránh gió, giải cảm hữu hiệu. Trang sức bạc (hay đồng ) còn được sử dụng như một tri thức bản địa để dự doán thời tiết. Bạc khi có màu thẫm dự báo trời mưa, khi có màu sáng dự báo trời nắng. Đồng chuyển màu đen thì dự báo trời mưa, chuyển màu vàng sáng dự báo trời nắng. Ở chỗ này, ta được chứng kiến cái lợi ích thế tục và thẩm mỹ, văn hóa đã hòa vào nhau.

(Những đỉnh núi du ca)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Liên hệ với Hà Giang Trẻ